
Thôn Phương Triện, xã Đại Lai, huyện Gia Bình, tỉnh Bắc Ninh
Họ Trần vốn thuộc dòng dõi Hoàng tộc, quê ở thôn Tức Mặc, phủ Thiên Trường, tỉnh Nam Định, nay là thôn Tức Mặc, xã Lộc Vượng ngoại thành Nam Định. Vào cuối thế kỷ 14 – đầu thế kỷ 15, vì lý do thời cuộc, cụ Thuần Đạo đã di cư về thôn Cống, xã Bảo Triện, huyện Gia Định, xứ Kinh Bắc (nay là xã Đại Lai, huyện Gia Bình, tỉnh Bắc Ninh) và từ đó ở đây có dòng họ Trần, cụ thủy tổ bắt đầu tính từ cụ Thuần Đạo.
Vào giai đoạn nửa cuối thời Lê, ba đời liên tiếp đỗ đại khoa, có 4 người đỗ Tiến sĩ (trong đó có hai người đỗ Hoàng Giáp), 67 người đỗ cử nhân và tú tài: được mệnh danh là gia đình Khoa bảng.
Việc học hành thi cử của dòng họ bắt đầu phát triển từ đời thứ 4 cụ Danh Huyên đỗ Tú tài, được phong chức Đặc tiến kim tử vinh lộc đại phu, Thừa chính xứ Thái Nguyên, tước Thuỵ Trạch bá; đến đời thứ 6 có 3 cụ đỗ Cử nhân: cụ Long Hưng, cụ Danh Trung và cụ Phụ Dực. Sau đó cụ Phụ Dực dự thi Hội và đỗ Tiến sĩ, tiếp đến là các vị tiến sĩ: Trần Danh Ninh (1703-1767), Trần Danh Lâm (1705 – 1777), Trần Danh Án (1754 – 1794) – đều là những người có nhiều công lao, đóng góp to lớn đối với đất nước, quê hương.
Di tích Mộ và Nhà thờ họ Trần Danh được khởi dựng vào thời Lê, khoảng thế kỷ XVIII, được xây dựng theo kiến trúc chữ Đinh, với quy mô lớn, là nơi thờ tự tổ tiên và các Tiến sĩ trong gia tộc họ Trần Danh. Tiêu biểu gia đình Tiến sỹ Trần Phụ Dực có 10 con trai, trong đó 2 con đỗ Tiến sỹ, 4 con đỗ cử nhân, 4 con đỗ tú tài. Hai con và cháu nội của cụ cũng đỗ Tiến sỹ, gồm: Trần Danh Ninh (1703-1767), Trần Danh Lâm (1705 – 1777), Trần Danh Án (1754 – 1794), đây đều là những người có nhiều công lao, đóng góp to lớn đối với đất nước, quê hương. Hiện cụm di tích dòng họ Trần Danh vẫn còn được bảo lưu được nhiều cổ vật có giá trị như Gia Phả, Bia đá, Hoành phi, Câu đối và đồ thờ tự… Trải qua thăng trầm, Nhà thờ thường xuyên được tôn tạo và bảo vệ, trở thành nơi sinh hoạt văn hóa, tín ngưỡng của gia tộc và là nơi tưởng niệm, giáo dục truyền thống về các bậc danh nhân khoa bảng của dòng họ. Với những giá trị to lớn, ngày 28/1/2015, Mộ và Nhà thờ tiến sĩ Trần Phụ Dực, Trần Danh Ninh, Trần Danh Lâm, Trần Danh Án được Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch công nhận là di tích lịch sử Quốc gia.
PHỤ LỤC
Văn bia đề danh tiến sĩ khoa Quý Hợi niên hiệu Chính Hòa năm thứ 4
(1683)

Trời mở vận văn minh, đời có vua thánh trí.
Kính nghĩ: Hy Tông Chương hoàng đế nối nghiệp thái bình, đức lớn sáng suốt, theo đạo vương để cầu sĩ, học đạo đế để cầu hiền. Thực nhờ Chiêu Tổ Khang vương1 theo nếp nhà trung hậu, nắm giữ quốc chính, tổng quản binh quyền, lưu tâm chọn người tài giỏi. Mùa đông năm Quý Hợi thi Hội cho các cống sĩ trong nước. Đặc sai Trung quân Đô đốc phủ Tả Đô đốc Thiếu phó Lộc Quận công Đinh Văn Tả làm Đề điệu, Bồi tụng Ngự sử đài Đô Ngự sử Hải Sơn tử Nguyễn Danh Thực làm Tri Cống cử, Bồi tụng Tả Thị lang Nhập thị Kinh diên Vĩnh Ngạn tử Nguyễn Công Vọng, Bồi tụng Hữu Thị lang Bộ Lại Nguyễn Viết Đương làm Giám thí, cùng các quan hữu ty chia giữ các việc.
Chiếu trên ban xuống, kẻ sĩ trong nước náo nức chiếm tên bảng vàng, hát thơ Lộc minh đến ứng thí tất cả đến 3.000 người. Qua trường bốn, lấy hạng trúng cách được 18 người. Bảng mực nhạt vừa mới treo lên thì năm cũ cũng vừa sắp hết. Đến ngày tháng Giêng năm Giáp Tý vào sân lớn làm bài đối sách, Hoàng thượng định thứ bậc cao thấp. Ban cho bọn Nguyễn Đăng Đạo 3 người đỗ Đệ nhất giáp Tiến sĩ cập đệ, Nguyễn ĐươngHồ đỗ Đệ nhị giáp Tiến sĩ xuất thân, bọn Trần Thiện Thuật 14 người đỗ Đệ tam giáp đồng Tiến sĩ xuất thân. Loa truyền xướng danh, treo bảng đề tên ở nhà Quốc học. Được ban áo xanh đai mũ, yến Quỳnh hoa bạc, sự đãi ngộ ân sủng chẳng kém gì các khoa trước. Nhưng việc khắc đá đề danh chưa kịp cử hành, đó là vì các khoa từ năm Bính Thân tới nay vẫn chưa dựng bia là muốn đợi thời làm luôn một thể. Mở rộng công xưa, mở mang nếp cũ, ắt phải đợi đến ngày nay chăng?
Ôi! Nghĩ Hoàng thượng giữ gìn cơ đồ do tiên vương sáng nghiệp truyền lại, gánh trách nhiệm trị hóa của bậc làm vua làm thầy, uy nghi rạng tỏ, trau dồi đạo đức, tôn quý người hiền. Thực nhờ [Đại nguyên súy Thống quốc chính Thượng sư An vương]2 chăm lo dạy bảo, sáng suốt trau dồi, điểm tô quy chế trị bình, hoàn bị thể thức văn vật. Vừa rồi Thánh thượng đích thân đến yết lễ ở Quốc tử giám, xem hết các tấm bia cũ, cảm khái muốn hoàn thành điển lễ còn thiếu. Đặc ban chỉ dụ rằng những khoa Tiến sĩ lâu nay chưa dựng bia phải dựng thêm cho đủ. Bèn sai quan Bộ Công khắc đá, từ thần soạn bài ký.
Thần giữ chức biên soạn, không dám viện cớ vụng về nông cạn chối từ. Cung kính cúi đầu rập đầu mà dâng lời rằng:
Trời sinh hiền tài là muốn để dùng cho đời, bậc nhân quân trị nước điều cốt yếu cần rộng chọn hiền tài. Bởi vì hiền tài là khí dụng của quốc gia, khí dụng đủ thì điều khiển giao phó chẳng việc gì không được, chính sự không việc gì không làm nổi, mà cơ đồ không thể không vững chắc, thế đạo không thể không thịnh sáng vậy. Cho nên đời xưa trị nước, không gì gấp bằng cầu tìm hiền tài để tin giao công việc.
Kính nghĩ: Quốc triều thánh tổ thần tông sáng suốt kế thừa công tích các đời trước, lưu ý việc văn, dựng nhà học để dưỡng dục nhân tài, đặt khoa thi để kén chọn kẻ sĩ, noi theo lệ cũ, thể thức đủ đầy. Đăng khoa có sách, đề danh có bia, khen thưởng tôn sùng, lưu tâm Nho học thật đã hết mức vậy. Cho nên nhiều kẻ sĩ ra đời, nhân tài nối nhau xuất hiện làm rường cột cho nước nhà, mở cuộc thái bình cho đương thời, làm rạng rỡ đời xưa, mở đường cho đời sau khỏi thiếu sót.
Kính trông: Hoàng thượng nối chí cầu hiền, công xưa thêm đẹp, bồi đắp mệnh mạch tư văn, tô điểm quy mô của một thời, sai dựng bia đá theo đúng lệ xưa, thật là việc lớn của đời thịnh vậy.
Hãy nói về khoa này, những người đỗ đạt bước chân vào đường sĩ hoạn, việc trong việc ngoài bao lần thay đổi, vất vả lo toan việc nước nhà, công lao nhiều ít đại khái đã thấy rõ. Nhưng bấm đốt ngón tay đếm lại, sau ba thập kỷ, tại chức chỉ còn một người, lên hàng quốc lão một người, làm quan ở Ngự sử đài hai người, những người khác cũng từng được đeo đai đại thần của các triều. Đó là chỉ kể các vị đỗ thứ nhất, thứ ba, thứ tư và vị trưởng khoa3, số còn lại đã cưỡi sao Cơ về trời, hồng bay mất dấu, thành người thiên cổ cả rồi, không còn nói gì được nữa. Nhưng những người hiện đang được triều nay trọng dụng há không nhớ ơn lựa chọn của tiên vương, cảm nghĩ sự biểu dương ngày nay mà cẩn thận bước đường về sau, mỗi ngày một tiến để khỏi hổ thẹn với khoa danh sao? Thảng hoặc không được như thế, chỉ nặng nghĩ lo riêng cho mình mà nhẹ lòng vì việc nước, cầu may cho được chu toàn, thích xu nịnh, né tránh việc mất lòng, ắt không tránh khỏi công luận mai sau, há chẳng đáng sợ hay sao?
Như thế đủ biết thánh triều đặt ra định chế dựng bia là để nêu tỏ việc đã qua, gửi gắm khuyên răn đời sau, chứ không phải bày đặt phù phiếm đâu! Những ai đọc bia này đều nên suy nghĩ cho thấu đáo.
Thần kính cẩn làm bài ký.
Cẩn sự lang Hàn lâm viện Hiệu thảo Nguyễn Kiều4 vâng sắc soạn.
Tá lý công thần Đặc tiến Kim tử Vinh lộc đại phu Tham tụng Thượng thư Bộ Lại kiêm Đông các Đại học sĩ Thiếu phó Liêm Quận công Nguyễn Quý Đức vâng sắc nhuận.Bia dựng ngày mồng 2 tháng 3 niên hiệu Vĩnh Thịnh 13 (1717), Hoàng Việt.
Đệ nhất giáp Tiến sĩ cập đệ, 3 người:
NGUYỄN ĐĂNG ĐẠO 阮登道5 người xã Hoài Bão huyện Tiên Du.
PHẠM QUANG TRẠCH 范光宅6 người xã Đông Ngạc huyện Từ Liêm
QUÁCH GIAI 郭佳7 người xã Phù Khê huyện Đông Ngàn
Đệ nhị giáp Tiến sĩ xuất thân, 1 người:
NGUYỄN ĐƯƠNG HỒ 阮當湖8 người xã Dương Húc huyện Tiên Du.
Đệ tam giáp đồng Tiến sĩ xuất thân, 14 người:
TRẦN THIỆN THUẬT 陳善述9 người xã Bát Tràng huyện Gia Lâm.
LÊ ĐĂNG PHỤ 黎登輔10 người hương Biện Thượng huyện Vĩnh Phúc.
HOA CÔNG PHƯƠNG 華公芳11 người xã An Dân huyện Đông Yên.
ĐỖ CÔNG TOẢN 杜公纘12 người xã Thượng Yên Quyết huyện Từ Liêm.
TRẦN PHỤ DỰC 陳附翼13 người xã Bảo Triện huyện Gia Định.
TRỊNH ĐỨC VẬN 鄭德運14 người xã Đại Mão huyện Siêu Loại.
TRẦN TIẾN GIÁN 陳進諫15 người Triền Dương huyện Chí Linh.
DƯƠNG CÔNG ĐỘ 楊公度16 người xã Nhị Khê huyện Thượng Phúc.
ĐÀO TUẤN NGẠN 陶俊彥17 người xã Ngọc Cục huyện Đường An.
PHÍ QUỐC THỂ 費國体18 người xã Thượng Trưng huyện Bạch Hạc.
NGUYỄN THỦ XỨNG 阮首稱19 người xã Hương Trai huyện Hương Sơn.
TẠ ĐĂNG VỌNG 謝登望20 người xã Đại Phùng huyện Đan Phượng.
NGUYỄN LONG BẢNG 阮龍榜21 người xã Chân Hộ huyện Yên Phong.
NGUYỄN ĐÌNH BÁCH 阮廷柏22 người xã Nguyệt Áng huyện Thanh Trì.
Thị nội Thư tả Thủy binh phiên Tướng sĩ lang Phó sở sứ người xã Phú Thị huyện Gia Lâm là Ngô Bảo vâng viết chữ (chân).
Kim quan môn Đãi chiếu Triện thích thái hàm Tự thừa, Liêu Tường nam Nguyễn Đình Huy vâng viết chữ triện.
Chú thích:
1. Miếu hiệu của Trịnh Căn (1709).
2. Tước phong của Trịnh Cương năm 1714.
3. Trưởng khoa: người nhiều tuổi nhất trong số người đỗ đồng khoa.
4. Nguyễn Kiều: Xem chú thích 1, Bia số 44.
5. Nguyễn Đăng Đạo (1651-1719) người xã Hoài Bão huyện Tiên Du (nay thuộc xã Liên Bão huyện Tiên Du tỉnh Bắc Ninh). Ông là con của Nguyễn Đăng Minh, em Nguyễn Đăng Tuân. Ông giữ các chức quan, như Đô Ngự sử, Nhập thị Kinh diên, tước Thọ Lâm tử, sau thăng Thượng thư Bộ Binh, Tham tụng kiêm Đông các Đại học sĩ, tước bá và được cử đi sứ sang nhà Thanh (Trung Quốc) thương lượng về việc đòi lại 3 động là Ngưu Dương, Hồ Điệp, Phổ Viên thuộc huyện Vị Xuyên xứ Tuyên Quang. Sau khi mất, ông được tặng Thượng thư Bộ Lại, tước Thọ Quận công. Sau ông đổi tên là Nguyễn Đăng Liên.
6. Phạm Quang Trạch (1653-?) người xã Đông Ngạc huyện Từ Liêm (nay là xã Đông Ngạc huyện Từ Liêm Tp. Hà Nội). Ông là cha Phạm Quang Ninh, làm quan Hữu Thị lang Bộ Lễ, tước nam. Sau khi mất, ông được tặng Tả Thị lang, tước tử.
7. Quách Giai (1660-?) người xã Phù Khê huyện Đông Ngàn (nay là xã Phù Khê huyện Từ Sơn tỉnh Bắc Ninh). Ông làm quan Thái thường Tự khanh.
8. Nguyễn Đương Hồ (1657-1740) người xã Dương Húc huyện Tiên Du (nay thuộc xã Đại Đồng huyện Tiên Du tỉnh Bắc Ninh). Ông làm quan Thượng thư Bộ Hình, Thiếu bảo, tước Phúc Quận công.
9. Trần Thiện Thuật (1659-?) người xã Bát Tràng huyện Gia Lâm (nay là xã Bát Tràng huyện Gia Lâm Tp. Hà Nội). Ông làm quan Hiến sứ. Bị giáng truất xuống Giám sát Ngự sử.
10. Lê Đăng Phụ (1662-1731) người hương Biện Thượng huyện Vĩnh Phúc (nay thuộc huyện Vĩnh Lộc tỉnh Thanh Hóa). Ông làm quan Hiến sứ.
11. Hoa Công Phương (1651-?) người xã An Dân huyện Đông Yên (nay thuộc xã Tân Dân huyện Châu Giang tỉnh Hưng Yên). Ông làm quan Hiến sứ.
12. Đỗ Công Toản (1626-?) người xã Thượng Yên Quyết huyện Từ Liêm (nay thuộc Yên Hoà quận Cầu Giấy Tp. Hà Nội). Ông là con của Đỗ Văn Tổng và là em Đỗ Văn Luân. Ông làm quan Hiến sát sứ. Có tài liệu ghi là Đỗ Công Toản
13. Trần Phụ Dực (1655-?) người xã Bảo Triện huyện Gia Định (nay thuộc xã Nhân Thắng huyện Gia Bình tỉnh Bắc Ninh). Ông là cha của Trần Danh Ninh, Trần Danh Lâm và là ông nội của Trần Danh Án. Ông làm quan Tham chính Lạng Sơn.
14. Trịnh Đức Vận (1646-?) người xã Đại Mão huyện Siêu Loại (nay thuộc xã Hoài Thượng huyện Thuận Thành tỉnh Bắc Ninh). Trước khi đi thi, ông làm Tri huyện, sau làm quan Giám sát Ngự sử đạo Hải Dương, rồi bị bãi chức. Có tài liệu ghi là Trịnh Đức Liên
15. Trần Tiến Gián (1660-?) người xã Triền Dương huyện Chí Linh (nay thuộc xã Nhân Huệ huyện Chí Linh tỉnh Hải Dương). Ông làm quan Tả Thị lang Bộ Lễ, tước tử và được cử đi sứ sang nhà Thanh (Trung Quốc). Sau khi mất, ông được tặng chức Thượng thư Bộ Công, tước hầu.
16. Dương Công Độ (1640-?) người xã Nhị Khê huyện Thượng Phúc (nay là xã Nhị Khê huyện Thường Tín tỉnh Hà Tây). Ông làm quan quyền Tham chính.
17. Đào Tuấn Ngạn (1639-1718) người xã Ngọc Cục huyện Đường An (nay thuộc xã Thúc Kháng huyện Bình Giang tỉnh Hải Dương). Ông làm quan Tham chính, Thái trường Tự khanh, tước nam.
18. Phí Quốc Thể (1652-?) người xã Thượng Trưng huyện Bạch Hạc (nay thuộc xã Tứ Trưng huyện Vĩnh Tường tỉnh Vĩnh Phúc). Ông làm quan Giám sát Ngự sử.
19. Nguyễn Thủ Xứng (1442-?) người xã Hương Trai huyện Hương Sơn (nay thuộc huyện Hương Sơn tỉnh Hà Tĩnh). Ông là con của Nguyễn Văn Lễ, làm quan Hiến sát sứ.
20. Tạ Đăng Vọng (1644-?) người xã Đại Phùng huyện Đan Phượng (nay thuộc xã Đan Phượng huyện Đan Phượng tỉnh Hà Tây). Ông là cha của Tạ Đăng Huân và là ông nội Tạ Đăng Thọ. Ông làm quan Giám sát Ngự sử.
21. Nguyễn Long Bảng (1652-?) người xã Chân Hộ huyện Yên Phong (nay thuộc xã Dũng Liệt huyện Yên Phong tỉnh Bắc Ninh). Ông làm quan Quốc tử giám Tư nghiệp.
22. Nguyễn Đình Bách (1659-?) người xã Nguyệt Áng huyện Thanh Trì (nay thuộc Đại Áng quận Hoàng Mai Tp. Hà Nội). Ông là con của Nguyễn Đình Trụ và là anh Nguyễn Đình Ức. Ông làm quan quyền Tham chính.
BẢN DỊCH BIA GHI DANH TIẾN SĨ TRẦN DANH NINH, TRẦN DANH LÂM tại Văn Miếu – Quốc Tử Giám – Hà Nội

Mừng nay cơ đồ to lớn tựa sao Cơ trường thọ, văn trị ngời chiếu như ánh sáng sao Khuê.
Kính vâng Hoàng thượng1 nắm quẻ Càn, đổi mới vận mệnh. Thực nhờ [Đại nguyên súy Thống quốc chính Thượng sư Uy vương]2 tạo tác muôn việc, cân nhắc lựa chọn nhân tài. Mùa đông tháng 10 năm Tân Hợi, chuẩn lời tâu của Bộ Lễ xin mở khoa thi Hội. Đặc sai Phó tướng Đề đốc Phương Quận công Trịnh Bật làm Đề điệu, Bồi tụng Lễ bộ Thượng thư Tri Hàn lâm viện sự Thiếu bảo Nông Quận công Nguyễn Hiệu làm Tri Cống cử, Bồi tụng Lễ bộ Tả Thị lang Lại Trạch hầu Phạm Đình Kính, Công bộ Hữu Thị lang Huy Luân bá Ngô Đình Thạc làm Giám thí. Qua bốn trường, lấy trúng cách bọn Nguyễn Bá Lân 12 người.
Qua tháng sau Điện thí, ban cho bọn Đỗ Huy Kỳ đỗ Cập đệ, Xuất thân có thứ bậc khác nhau. Lại sai khắc đá đề danh để lưu truyền mãi mãi.
Đệ nhất giáp Tiến sĩ cập đệ Đệ tam danh:
ĐỖ HUY KỲ 杜輝琪3 xã Thử Cốc huyện Thụy Nguyên, Tham nghị.
Đệ nhị giáp Tiến sĩ xuất thân, 3 người:
TRẦN DANH NINH 陳名寧4 người xã Bảo Triện huyện Gia Định, Nho sinh trúng thức.
NGUYỄN NGHIỄM 阮儼5 người xã Tiên Điền huyện Nghi Xuân, Giám sinh.
QUẢN ĐÌNH DU 管廷油6 người xã Hoa Cầu huyện Văn Giang, Giám sinh.
Đệ tam giáp đồng Tiến sĩ xuất thân, 8 người:
NGUYỄN BÁ LÂN 阮伯璘7 người xã Cổ Đô huyện Tiên Phong, Huấn Đạo.
NGUYỄN THÌ LƯỢNG 阮時亮8 người xã Phùng Xá huyện Thạch Thất, Giám sinh.
MAI THẾ CHUẨN 枚世準9 người xã Thạch Tuyền huyện Nga Sơn, Sinh đồ.
MAI DANH TÔNG 枚名琮10 người xã Cao Lãm huyện Sơn Minh, Tri huyện.
TRẦN DANH LÂM 陳名霖11 người xã Bảo Triện huyện Gia Định, Nho sinh trúng thức.
PHẠM NGUYÊN NINH 范元寧12 người xã Đông Ngạc huyện Từ Liêm, Tư vụ.
TRẦN LÊ LÂN 陳黎轔13 người xã Tam Lộng huyện Lôi Dương, Tri huyện.
DƯƠNG CÔNG THỤ 楊公澍14 người xã Lạc Đạo huyện Gia Lâm, Tri huyện.
Bia dựng tiết Gia Bình (tức tháng Chạp)15 niên hiệu Long Đức thứ 1 (1732) Hoàng Lê.
Tiến sĩ cập đệ khoa Canh Dần, Tham tụng Thượng thư Bộ Lại kiêm Đông các Đại học sỹ Thiếu bảo Thuật Quận công Phạm Khiêm Ích16vâng sắc soạn.
Chú thích:
1. Chỉ vua Lê Duy Phường (1729-1732).
2. Tước phong của Trịnh Giang.
3. Đỗ Huy Kỳ (1695-1748) người xã Thử Cốc huyện Thụy Nguyên (nay thuộc xã Thiệu Tâm huyện Đông Sơn tỉnh Thanh Hóa). Ông làm quan Thừa chính sứ, tước bá và được cử làm Chánh sứ sang nhà Thanh (Trung Quốc), nhưng trên dường đi thì lâm bệnh và mất. Sau khi mất, ông được tặng chức Hữu Thị lang Bộ Lễ.
4. Trần Danh Ninh (1703-1766), người xã Bảo Triện huyện Gia Định (nay thuộc xã Đại Lai huyện Gia Bình tỉnh Bắc Ninh). Ông là con của Trần Phụ Dực, anh Trần Danh Lâm và giữ các chức quan, như Hàn lâm Thị độc, Tri lễ phiên, Nhập thị Bồi tụng, Tả Thị lang, Thượng thư Bộ Lễ, tước hầu. Sau khi mất, ông được truy tặng hàm Thái bảo.
5. Nguyễn Nghiễm (1708-1775) hiệu là Nghi Hiên, biệt hiệu là Hồng Ngư Cư Sĩ và tự là Hy Tư, người xã Tiên Điền huyện Nghi Xuân (nay là xã Tiên Điền huyện Nghi Xuân tỉnh Hà Tĩnh). Ông là thân phụ của Nguyễn Khản, Nguyễn Du và giữ các chức quan như: Tham nhung vụ Hiệp đồng Tán lý, Tham chính xứ Sơn Nam, Tế tửu Quốc tử giám, Hàn lâm Thừa chỉ, tước Xuân lĩnh bá; Hữu Tham tri Bộ Công, tước Xuân linh hầu; Hiệp trấn xứ Thanh Hoa, Thiêm đô Ngự sử, Đô Ngự sử kiêm Đốc trấn Thanh Hoa, Hiệp trấn Nghệ An; rồi thăng Tả Thị lang Bộ Hình và Bộ Lễ, Thượng thư Bộ Công, Nhập thị Bồi tụng, hàm Thái tử Thiếu bảo; rồi lại thăng Đại ư không, Thượng thư Bộ Hộ, Đại tư đồ, tước Xuân Quận công. Sau khi mất, ông đượcc vua ban tặng tên thụy là Trung Cần, sắc cho các địa phương lập bàn thờ và phong Thượng đẳng thần. Sinh thời, Nguyễn Nghiễm là một nhà chính trị, nhà thơ, nhà văn, nhà sử học nổi tiếng.
6. Quản Đình Du (1703-?) người xã Hoa Cầu huyện Văn Giang (nay thuộc xã Nghĩa Trụ huyện Văn Giang tỉnh Hưng Yên). Ông làm quan Hàn lâm Đãi chế.
7. Nguyễn Bá Lân (1701-1786) người xã Cổ Đô huyện Tiên Phong (nay là xã Cổ Đô huyện Ba Vì tỉnh Hà Tây). Ông giữ chức các chức quan, như Phiên tào, Lưu thủ trấn Hưng Hóa, Đốc trấn Cao Bằng, Bồi tụng Thiêm đô Ngự sử, tước Lễ Trạch hầu, rồi thăng Thượng thư Bộ Công. Sau khi mất, ông được tặng hàm Thái tể, tước Quận công .
8. Nguyễn Thì Lượng (1697-?) người xã Phùng Xá huyện Thạch Thất (nay là xã Phùng Xá huyện Thạch Thất tỉnh Hà Tây). Ông là con của Nguyễn Nham. Sau khi thi đỗ, ông chưa kịp vinh quy thì mất.
9. Mai Thế Chuẩn (1703-1761) người xã Thạch Tuyền huyện Nga Sơn (nay thuộc huyện Nga Sơn tỉnh Thanh Hóa). Ông làm quan Hữu Thị lang, sau đổi sang võ ban, giữ chức Quyền Phụ sự.
10. Mai Danh Tông (1706-?) người xã Cao Lãm huyện Sơn Minh (nay thuộc xã Cao Thành huyện Ứng Hoà tỉnh Hà Tây). Ông làm quan Hiệu thư, tước bá.
11. Trần Danh Lâm (1705-1777) hiệu Khiêm Trai , người xã Bảo Triện huyện Gia Định (nay thuộc xã Đại Lai huyện Gia Bình tỉnh Bắc Ninh). Ông là cha của Trần Danh Án, con Trần Phụ Dực và là anh Trần Danh Ninh. Ông giữ các chức quan như: Đốc đồng Cao Bằng, Hàn lâm viện Hiệu lý, tước Trục Nhạc bá; sau thăng Hữu Thị lang Bộ Công, điều đi làm Đốc thị Nghệ An, rồi thăng Thị lang bộ Binh, Bồi tụng Phó Đô Ngự sử, Tả Thị lang Bộ Công và Bộ Hộ kiêm chức Ngự sử đài Đô Ngự sử, Thượng thư Bộ Công. Sau khi mất, ông được tặng hàm Thái bảo, tên thụy là Trung Lương .
12. Phạm Nguyên Ninh (1700-?) người xã Đông Ngạc huyện Từ Liêm (nay là xã Đông Ngạc huyện Từ Liêm Tp. Hà Nội). Ông là con Phạm Quang Trạch và làm quan Đông các Hiệu thư. Sau bị tử trận và được truy tặng Hữu Thị lang, tước hầu.
13. Trần Lê Lân (1694-?) người xã Tam Lộng huyện Lôi Dương (nay thuộc xã Thọ Cường huyện Thọ Xuân tỉnh Thanh Hóa). Ông làm quan Hàn lâm Đãi chế.
14. Dương Công Thụ (1696-?) người xã Lạc Đạo huyện Gia Lâm (nay là xã Lạc Đạo huyện Văn Lâm tỉnh Hưng Yên). Ông làm quan Tả Thị lang Bộ Lại. Sau khi mất được tặng chức Thượng thư, tước Quận công. Có tài liệu phiên là Dương Danh Thụ.
15. Gia Bình: biệt danh của tháng chạp. Đời Ân gọi tháng chạp là Gia Bình.
16. Phạm Khiêm Ích: Xem chú thích 2, Bia số 58.
BIA ĐỀ DANH TIẾN SĨ TRẦN DANH NINH, TRẦN DANH LÂM, TRẦN DANH ÁN tại Văn miếu Bắc Ninh – tỉnh Bắc Ninh

KIM BẢNG LƯU PHƯƠNG
VĂN BIA ĐỀ DANH TIẾN SĨ TỪ KHOA TÂN HỢI (1731)ĐẾN KHOA ĐINH MÙI (1787)
Niên hiệu Vĩnh Khánh thời Lê khoa Tân Hợi
Đệ nhị giáp Tiến sĩ:
TRẦN DANH NINH 陳名寧1 người xã Bảo Triện huyện Gia Định, làm Thượng thư Bộ Lễ, về trí sĩ, tặng Thiếu bảo.
QUẢN ĐÌNH DU 管廷油2 người xã Hoa Cầu huyện Tế Giang, làm Hàn lâm Thị chế.
Đệ tam giáp đồng Tiến sĩ:
TRẦN DANH LÂM 陳名霖3 người xã Bảo Triện huyện Gia Định, làm Thượng thư Bộ Hình, về trí sĩ, tặng Thiếu bảo.
DƯƠNG DANH THỤ 楊名澍4 người xã Lạc Đạo huyện Gia Lâm, làm Thị lang, tặng Thượng thư, tước Quận công, phong phúc thần.
Niên hiệu Long Đức thời Lê khoa Quý Sửu
Đệ tam giáp đồng Tiến sĩ:
TRƯƠNG HỮU ĐIỀU 張有條5 người xã Xuân Canh huyện Đông Ngàn, làm quan đến chức Hiến sứ.
NGUYỄN HUY THUẬT 阮輝術6 người xã Phú Thị huyện Gia Lâm, làm Hàn lâm Thừa chỉ.
Niên hiệu Vĩnh Hựu thời Lê khoa Bính Thìn
Đệ tam giáp đồng Tiến sĩ:
TRẦN DANH TÂN 陳名濱7 người xã Bồng Trì huyện Gia Định, làm Đô Ngự sử, tặng Thị lang.
Niên hiệu Cảnh Hưng thời Lê khoa Quý Hợi
Đệ tam giáp đồng Tiến sĩ:
LÊ DOÃN GIẢN 黎允僩8 người xã Đại Mão huyện Siêu Loại, làm Thừa sứ, tặng Thị lang.
Niên hiệu Cảnh Hưng thời Lê khoa Bính Dần
Đệ nhị giáp Tiến sĩ:
ĐOÀN THỤ 段澍9 người xã Phù Lỗ huyện Kim Hoa, làm Thị lang Bộ Lễ, tước hầu.
Niên hiệu Cảnh Hưng thời Lê khoa Mậu Thìn
Đệ nhị giáp Tiến sĩ:
TRỊNH XUÂN THỤ 鄭春澍10 người xã Hoa Lâm huyện Đông Ngàn, đi sứ, làm Đông các Đại học sĩ.
Đệ tam giáp đồng Tiến sĩ:
VŨ MIÊN 武棉11 người xã Xuân Quan huyện Thiện Tài, đỗ đầu thi Hội, làm Thượng thư.
NGUYỄN HUY DẬN 阮輝胤12 người xã Phú Thị huyện Gia Lâm, đỗ đầu thi Hương, làm quan Tự khanh.
NGUYỄN TRỌNG ĐỘT 阮仲突13 người xã Phù Khê huyện Đông Ngàn, làm Thị chế, về trí sĩ.
LÊ DOÃN THÂN 黎允伸14 người xã Đại Mão huyện Siêu Loại, làm Thừa sứ, tặng Thị lang.
Niên hiệu Cảnh Hưng thời Lê khoa Nhâm Thân
Đệ tam giáp đồng Tiến sĩ:
NGUYỄN XUÂN HUY 阮春暉15 người xã Nhuế Đông huyện Thiện Tài, làm Đô Cấp sự trung.
Niên hiệu Cảnh Hưng thời Lê khoa Giáp Tuất
Đệ tam giáp đồng Tiến sĩ:
DƯƠNG TRỌNG KHIÊM 楊仲謙16 người xã Lạc Đạo huyện Gia Lâm, làm Đô Ngự sử.
DƯƠNG SỬ 楊史17 người xã Lạc Đạo huyện Gia Lâm, làm Thamchính, tặng Đại học sĩ.
NGUYỄN THƯỞNG 阮賞18 người xã Vân Điềm huyện Đông Ngàn, đi sứ, làm Thị lang, Phó Đô Ngự sử.
Niên hiệu Cảnh Hưng thời Lê khoa Đinh Sửu
Đệ tam giáp đồng Tiến sĩ:
PHẠM HUY CƠ 笵暉基19 người xã Đông Bình huyện Gia Định, làm quan đến chức Hiến sứ.
PHẠM TIẾN 笵璡20 người xã Kim Đôi huyện Vũ Ninh, đỗ đầu thi Hội, đi sứ, làm quan đến chức Thiêm đô.
Niên hiệu Cảnh Hưng thời Lê khoa Canh Thìn
Đệ tam giáp đồng Tiến sĩ:
NGÔ TRẦN THỰC 吳陳植21 người xã Phật Tích huyện Tiên Du, đỗ đầu thi Hương, Đại học sĩ.
NGUYỄN HUY CẨN 陳輝22 người xã Phú Thị huyện Gia Lâm, đỗ đầu thi Hương, sau từ quan.
Niên hiệu Cảnh Hưng thời Lê khoa Quý Mùi
Đệ tam giáp đồng Tiến sĩ:
NGUYỄN DUY THỨC 阮惟式23 người xã Vọng Nguyệt huyện Yên Phong, đỗ đầu thi Hội, làm Trấn thủ Hưng Hoá.
Niên hiệu Cảnh Hưng thời Lê khoa Bính Tuất
Đệ tam giáp đồng Tiến sĩ:
NGUYỄN QUÝNH 阮囧24 người xã Phật Tích huyện Tiên Du, làm Hàn lâm Thị chế.
Niên hiệu Cảnh Hưng thời Lê khoa Kỷ Sửu
Đệ tam giáp đồng Tiến sĩ:
NGUYỄN HUY TRẠC 阮暉濯25 người xã Đan Nhiệm huyện Tế Giang, làm Tham tri Chính sự, sau tử tiết.
Niên hiệu Cảnh Hưng thời Lê khoa Ất Mùi
Đệ tam giáp đồng Tiến sĩ:
NGÔ THẾ TRỊ 吳世治26 người xã Hội Phụ huyện Đông Ngàn, đi sứ, Đốc đồng Tuyên Quang.
PHẠM ĐÌNH DƯ 笵廷璵27 người xã Kim Đôi huyện Vũ Ninh, khi vua chạy loạn, ông đi theo có công, làm Bình chương sự.
LÊ DUY ĐẢN 黎惟亶28 người xã Hương La huyện Yên Phong, làm Tham tri Chính sự, từng đi đón quân Thanh, sau ở ẩn để giữ danh tiết.
Niên hiệu Cảnh Hưng thời Lê khoa Mậu Tuất
Đệ tam giáp đồng Tiến sĩ Đình nguyên:
NGUYỄN DUÂN 阮昀29 người xã Phạt Tích huyện Tiên Du, làm Đốc đồng Kinh Bắc.
CHU DOÃN LỆ 朱允勵30 người xã Dục Tú huyện Đông Ngàn, làm Tham chính Hải Dương, khi vua chạy loạn, ông đi theo có công, thăng Đồng tri Khu mật viện sự.
Niên hiệu Cảnh Hưng thời Lê khoa Kỷ Hợi
Đệ tam giáp đồng Tiến sĩ:
NGUYỄN HUY QUÂN 阮輝鈞31 người xã Thanh Khê huyện Tế Giang, làm Hiến sứ Hải Dương.
NGUYỄN HÀN 阮翰32 người xã Phú Thị huyện Gia Lâm, làm Đốc đồng Cao Bằng.
NGUYỄN ĐÌNH THIỀU 阮廷韶33 người xã Phù Ngàn huyện Đông Ngàn, làm quan đến Tham đồng.
NGUYỄN HUY LIỄN 阮輝璉34 người xã Phú Thị huyện Gia Lâm, làm Tham chính Sơn Nam, sau ở ẩn để giữ danh tiết.
Niên hiệu Cảnh Hưng thời Lê khoa Tân Sửu
Đệ tam giáp đồng Tiến sĩ:
NGUYỄN CẦU 阮球35 người xã Yên Khê huyện Gia Lâm, đỗ đầu thi Hội.
Niên hiệu Cảnh Hưng thời Lê khoa Ất Tị
Đệ tam giáp đồng Tiến sĩ:
NGUYỄN BÁ LAN 阮伯闌36 người xã Cổ Linh huyện Gia Lâm, đỗ đầu thi Hội, làm Phủ doãn.
LÊ DANH HIỂN 黎名顯37 người xã Bát Tràng huyện Gia Lâm, đỗ đầu thi Hương.
Niên hiệu Chiêu Thống thời Lê khoa Đinh Mùi
Đệ tam giáp đồng Tiến sĩ:
NGUYỄN GIA CÁT 阮嘉吉38 người xã Hoa Cầu huyện Tế Giang, làm Tả Tham tri Bộ Lễ.
Đinh Mùi chính khoa
Đệ nhị giáp Tiến sĩ:
NGUYỄN ĐĂNG SỞ 阮登楚39 người xã Hương Triện huyện Gia Định, làm Tư nghiệp, tôn là Đại sư.
TRẦN DANH ÁN 陳名案 40 người xã Bảo Triện huyện Gia Định, đỗ đầu thi Hương, cùng Lê Tham tri đi đón quân Thanh, làm Phó Đô Ngự sử, tước Định Nhạc hầu. Sau ở ẩn không chịu làm quan.
Đệ tam giáp đồng Tiến sĩ:
HOÀNG NGUYỄN THỰ 黃阮曙41 người xã Đông Bình huyện Gia Định, làm Thị lang Bộ Hình, tước Thuận Đình hầu.
NGUYỄN ĐĂNG VẬN 阮登運42 người xã Hoài Bão huyện Tiên Du, làm Giám sát Ngự sử. Sau ở ẩn giữ danh tiết, không ra làm quan.
Từ triều Lý khai khoa thi, trải đến triều Lê mạt, tỉnh Bắc Ninh có 599. vị đăng khoa (chúng tôi cộng chỉ được 598. vị): triều Lý 1. người, triều Trần 8. người, Nhuận Hồ3. người, Tiền Lê 243. người, Nhuận Mạc 170. người, Hậu Lê 174. người.
Chú thích:
1. Trần Danh Ninh: Xem chú thích số 4, Bia số 65.
2. Quản Đình Du: Xem chú thích số 6, Bia số 65.
3. Trần Danh Lâm: Xem chú thích số 11, Bia số 65.
4. Dương Danh Thụ: Xem chú thích số 14, Bia số 65.
5. Trương Hữu Điều: Xem chú thích số 16, Bia số 66.
6. Nguyễn Huy Thuật: Xem chú thích số 20, Bia số 66.
7. Trần Danh Tân: Xem chú thích số 12, Bia số 67.
8. Lê Doãn Giản: Xem chú thích số 8, Bia số 69.
9. Đoàn Thụ: Xem chú thích số 2, Bia số 70.
10. Trịnh Xuân Thụ: Xem chú thích số 3, Bia số 71.
11. Vũ Miên: Xem chú thích số 4, Bia số 71.
12. Nguyễn Huy Dận: Xem chú thích số 5, Bia số 71.
13. Nguyễn Trọng Đột: Xem chú thích số 7, Bia số 71.
14. Lê Doãn Thân: Xem chú thích số 12, Bia số 71.
15. Nguyễn Xuân Huy: Xem chú thích số 8, Bia số 72.
16. Dương Trọng Khiêm: Xem chú thích số 3, Bia số 73.
17. Dương Sử: Xem chú thích số 4, Bia số 73.
18. Nguyễn Thưởng: Xem chú thích số 9, Bia số 73.
19. Phạm Huy Cơ: Xem chú thích số 3, Bia số 74.
20. Phạm Tiến: Xem chú thích số 4, Bia số 74.
21. Ngô Trần Thực: Xem chú thích số 2, Bia số 75.
22. Nguyễn Huy Cẩn: Xem chú thích số 6, Bia số 75.
23. Nguyễn Duy Thức: Xem chú thích số 4, Bia số 76.
24. Nguyễn Quýnh: Xem chú thích số 8, Bia số 77.
25. Nguyễn Huy Trạc: Xem chú thích số 7, Bia số 78.
26. Ngô Thế Trị: Xem chú thích số 1, Bia số 80.
27. Phạm Đình Dư: Xem chú thích số 9, Bia số 80.
28. Lê Duy Đản: Xem chú thích số 12, Bia số 80.
29. Nguyễn Duân: Xem chú thích số 1, Bia số 81.
30. Chu Doãn Lệ: Chính là Chu Doãn Mại. Xem chú thích số 3, Bia số 81.
31. Nguyễn Huy Quân: Xem chú thích số 5, Bia số 82.
32. Nguyễn Hàn: Xem chú thích số 6, Bia số 82.
33. Nguyễn Đình Thiều: Xem chú thích số 7, Bia số 82.
34. Nguyễn Huy Liễn: Bia Văn miếu Hà Nội ghi là Trần Huy Liễn. Xem chú thích số 12, Bia số 82.
35. Nguyễn Cầu (1747-?) người xã Yên Khê huyện Gia Lâm (nay thuộc xã Yên Thường huyện Gia Lâm Tp. Hà Nội), đỗ đầu thi Hội, đỗ Đệ tam giáp đồng Tiến sĩ xuất thân, khoa Tân Sửu niên hiệu Cảnh Hưng thứ 42. (1781) đời vua Lê Hiển Tông. Ông làm quan đến chức Đông các Hiệu thư, đầu thời Gia Long (1802) được bổ chức Đốc học Hưng Hoá.
36. Nguyễn Bá Lan (1757-?) người xã Cổ Linh huyện Gia Lâm (nay thuộc thị trấn Sài Đồng quận Long Biên Tp. Hà Nội), đỗ đầu thi Hội, đỗ Đệ tam giáp đồng Tiến sĩ xuất thân, khoa Ất Tị niên hiệu Cảnh Hưng thứ 46. (1785) đời vua Lê Hiển Tông. Ông làm quan đến chức Hàn lâm viện Đãi chế, Thự Phủ doãn phủ Phụng Thiên, tước Lâm Trạng bá. Khi Nguyễn Huệ ra Bắc (1788), ông đến yết kiến và được trao chức Hàn lâm Trực học sĩ.
37. Lê Danh Hiển (1757-?) người xã Bát Tràng huyện Gia Lâm (nay thuộc xã Bát Tràng huyện Gia Lâm Tp. Hà Nội), đỗ đầu thi Hương, đỗ Đệ tam giáp đồng Tiến sĩ xuất thân, khoa Ất Tị niên hiệu Cảnh Hưng thứ 46. (1785) đời Lê Hiển Tông. Ông làm quan đến chức Đề hình Giám sát Ngự sử, Đốc đồng Thanh Hoa. Sau ông ra làm quan triều Tây Sơn, đến chức Hữu Thị lang Bộ Lễ, tước Gia Phái hầu.
38. Nguyễn Gia Cát (1760-?) hiệu Địch Hiên 迪 軒 người xã Hoa Cầu huyện Văn Giang (nay thuộc xã Nghĩa Trụ huyện Văn Giang tỉnh Hưng Yên). Ông xuất thân Nho sinh trúng thức, đỗ đồng Chế khoa xuất thân, khoa Đinh Mùi niên hiệu Chiêu Thống thứ 1. (1787) đời Lê Mẫn Đế. Ông làm quan với triều Tây Sơn đến Đốc học Bắc Thành. Sau lại làm quan với nhà Nguyễn đến chức Tả Tham tri Bộ Lễ, tước Quỳ Giang hầu và được cử đi sứ sang nhà Thanh (Trung Quốc).
39. Nguyễn Đăng Sở (1754-1840) người xã Hương Triện huyện Gia Định (nay thuộc xã Nhân Thắng huyện Gia Bình tỉnh Bắc Ninh), đỗ thi Hương, đỗ Đệ nhị giáp Tiến sĩ xuất thân, khoa Đinh Mùi niên hiệu Chiêu Thống thứ 1. (1787) đời vua Lê Mẫn Đế. Đời Lê Chiêu Thống, ông làm đến chức Hàn lâm viện Hiệu lý, tước Hương Lĩnh bá. Sau ông ra làm quan với triều Tây Sơn, đến chức Tả Thị lang Bộ Lại, tước Gia Định hầu.
40. Trần Danh Án (1755-1794) hiệu là Liễu Am 柳 庵 người xã Bảo Triện huyện Gia Định (nay thuộc xã Đại Lai huyện Gia Bình tỉnh Bắc Ninh), đỗ đầu thi Hương, đỗ Đệ nhị giáp Tiến sĩ xuất thân, khoa Đinh Mùi niên hiệu Chiêu Thống thứ 1. (1787) đời vua Lê Mẫn Đế. Khi quân Tây Sơn ra Bắc, ông cùng nội thần hộ giá vua chạy. Sau ở ẩn, rồi lại cùng một số người như Trần Quang Chân, Dương Đình Tuấn dấy quân chống lại Tây Sơn. Khi được tin Chiêu Thống chết, ông đứng quay về phương Bắc ngửa cổ lên trời vừa lạy vừa khóc rồi sinh bệnh nặng mà chết.
41. Hoàng Nguyễn Thự (1749-1801) tự là Đông Hy 東 晞, hiệu là Nghệ Điền 藝 người xã Đông Bình huyện Gia Định (nay thuộc xã Xuân Lai huyện Gia Bình tỉnh Bắc Ninh), đỗ Đệ tam giáp đồng Tiến sĩ xuất thân, khoa Đinh Mùi niên hiệu Chiêu Thống thứ 1. (1787) đời vua Lê Mẫn Đế. Trước khi đi thi, ông làm Tri huyện. Sau, ông ra làm quan với triều Tây Sơn giữ các chức Tả Thị lang Bộ Hình, Hiệp trấn Lạng Sơn, tước Thuận Đình hầu. Có tài liệu chép là Hoàng Xuân Thự.42. Nguyễn Đăng Vận (1750-?) người xã Hoài Bão huyện Tiên Du (nay thuộc xã Liên Bão huyện Tiên Du tỉnh Bắc Ninh), đỗ Đệ tam giáp đồng Tiến sĩ xuất thân, khoa Đinh Mùi niên hiệu Chiêu Thống thứ 1. (1787) đời vua Lê Mẫn Đế. Đời Lê Chiêu Thống, ông được trao cho chức Binh khoa Cấp sự trung. Khi Tây Sơn ra Bắc, triệu ông ra hầu, ông bèn nhịn ăn mà chết.
