BẢN DỊCH BIA CỤ PHỤ DỰC VÀ BIA NHÀ THỜ BỆ ĐÁ CỦA DÒNG HỌ

TRẦN QUẬN CÔNG TỪ BI KÍ

Hiển cao tổ khảo, trước là Tiến sĩ Đệ tam giáp khoa Qúy Hợi, Triều liệt Đại phu, Tán trị xứ Lạng Sơn, Thừa chính sứ ti Tham chính, phong tặng Gia hành Đại phu, Thừa chính sứ xứ Sơn Tây, gia phong tặng Đặc tiến Kim tử Vinh lộc Đại phu, Lễ bộ Hữu thị lang, Phong Trạch bá, phụng chuẩn cho vì dạy con đăng khoa nên lại gia tặng hai lần Ngự sử đài, Đô ngự sử, đặc biệt gia phong tặng Diễn Quận công, tặng thụy là Văn Chính, hiệu Diệu Đạo phủ quân.

Hiển cao tổ tỉ Chính thất Nghi nhân, phong tặng Tự phu nhân, đặc biệt gia phong tặng Quận phu nhân, họ Nguyễn, hiệu Từ Nguyện, húy Uông, quê ở thôn Đào xã Nhân Hữu, giỗ ngày 10 tháng 7, táng tại xứ Cửa Mả.

Phủ quân húy Truyền, tự Phụ Dực, sinh giờ Thân ngày 7 tháng 11 năm Ất Mùi niên hiệu Thịnh Đức[1], năm 16 tuổi đỗ trường Quận. Năm 19 thi cùng hai anh lĩnh Hương giải. Khoa thi Hội năm thứ 4 Quý Hợi niên hiệu Chính Hòa (1683), bấy giờ 29 tuổi đỗ Tiến sĩ, làm quan đến chức Giám sát Ngự sử đạo Hải Dương. Cụ thi hành công vụ, bị gièm pha liên lụy, giáng chức làm Ti huấn quán Chiêu Văn. Nhàn tản hơn 10 năm, nghe theo mệnh trời sắp đặt, không cầu vinh hiển, dạy trò hơn nghìn người, đa phần thành đạt. Sau nhờ ơn trên cất nhắc lại người tài, ban chức Giám sát sử đạo Sơn Tây, làm quan trải qua các chức Hiến sát sứ xứ Hưng Hóa, Lễ khoa Đô cấp sự trung, Đốc đồng xứ Sơn Nam, Tham chính xứ Lạng Sơn, mất ngày 14 tháng 6 năm Qúy Tị, thọ 59 tuổi, táng tại xứ Chỉ Chưởng xã Hương Triện, nay có mộ chí.

Thê thiếp có 6 vị, sinh 10 người con trai. Con trai trưởng: húy Thực, Nho sinh; con thứ 2 húy Khuê; con thứ 3 húy Vũ, Nho sinh, Huyện thừa; con thứ 4 húy Trí; con thứ 5 húy Liêu, Lang trung bộ Binh; con thứ 6 húy Thái, Nho sinh, Điện tiền Câu kê; con thứ 7 húy Ninh, Hoàng giáp, Thượng thư bộ Lễ; con thứ 8 húy Thân, Tiến sĩ, Thượng thư bộ Hình; con thứ 9 húy Gia, Nho sinh Trúng thức, Lang trung bộ Lễ; con thứ 10 húy Qúy, Nho sinh Trúng thức. Sinh 7 người con gái: con trưởng húy Vinh, con thứ 2 húy Sâm, con thứ 3 húy Phương, con thứ 4 húy Bàng, con thứ 5 húy Oanh, con thứ 6 húy Điềm, con thứ 7 húy Đạm.

Đạo đức văn chương, làm thầy của đời, thi thư lễ nhạc, thủy tổ của nhà. Người thời sau đáng phải tưởng nhớ thờ cúng mà tôn sùng báo đáp vậy. Chiếu theo lễ, Lập xuân tế tiên tổ, có lẽ là lấy nghĩa sinh thành vạn vật. Nay hàng năm Lập xuân kính tế, lễ phẩm lấy tiền ruộng phụ tế 15 quan, chiếu theo tuổi thay phiên nhau sắm sửa. Ruộng ấy mẫu sào, ở các xứ sở thế nào liệt kê ở sau, để truyền mãi về sau.


Khắc bia năm Tân Dậu niên hiệu Tự Đức

Ruộng phụ tế: Hàng con hàng cháu, mỗi vị hai sào; hàng chắt hàng chút trở xuống, mỗi vị một sào. Ruộng Chính thất quan huyện Vĩnh Khang 3 sào 2 thước 7 tấc, tổng cộng 2 mẫu 9 sào 6 thước 5 tấc. Lấy tiền 30 quan, trong đó 15 quan kính dâng lễ Đông Chí, 15 quan kính dâng lễ Lập Xuân.

Ruộng phụ tế ghi sau đây:

Xứ Chiêm 1 thửa 4 sào 1 thước; xứ Chuối 1 thửa 2 sào 1 thước; xứ Trình, 1 thửa 1 sào 12 thước.

Xứ Lọc Trại, 1 thửa 2 sào 2 thước; lại 1 thửa 1 sào 2 thước; lại 1 thửa 1 sào 12 thước.

Lại 1 thửa 2 sào; xứ Bướm 1 thửa 1 sào 12 thước; lại 1 thửa 1 sào 14 thước.

Xứ Bờ Nồng 1 thửa 4 sào 3 thước; xứ Tốn 1 thửa 1 sào 12 thước; lại 1 thửa 1 sào 8 thước.

Ruộng của Chính thất quan Tri huyện huyện Vính Khang họ Trần, húy Đạm, hiệu […][1] ghi sau đây:

Xứ Cầu Mối[2] 1 thửa 2 sào 10 thước; xứ Làng Tranh, 1 thửa 7 thước 5 tấc.

Điều lệ họ ta:

Có người trúng Tiến sĩ, cúng 2 sào ruộng. Người đỗ Cử nhân, Tú tài hoặc hạng ngạch khác có làm quan từ Bát phẩm đến Lục phẩm, cúng 1 sào ruộng; Ngũ phẩm đến Tứ phẩm, lại cúng 1 sào ruộng; Tứ phẩm được bổ nhiệm Án sát, cúng 1 sào ruộng; Tam phẩm đến Nhất phẩm, cứ thăng một cấp cúng 1 sào ruộng; Người đỗ Tiến sĩ ra làm quan cũng như vậy. Lại ruộng Phụ tế ở Lọc Trại 2 sào.


 Hà Nội, ngày 8 tháng 1 năm 2021
VIỆN NGHIÊN CỨU HÁN NÔM         
Người dịch: Th.s Đào Thị Huệ,  
                      Th.s Trương Văn Thắng.
Người hiệu đính: Ts. Vũ Việt Bằng.

TRUY VIỄN ĐÀN BI KÝ

 Thế hệ họ Trần ta, là hậu duệ hoàng gia họ Trần Tức Mặc Nam Hoàng vậy.

Hiển thập đại Tổ khảo[1] tên hiệu THUẦN ĐẠO phủ quân[2], chọn ở ấp ta Bảo Triện, mở đầu họ ta là từ cụ vậy, mộ táng ở Đường Mãng, giỗ ngày 20 tháng 8.

Hiển thập đại Tổ tỉ[3] tên hiệu Trinh Tiết nhụ nhân[4], họ tên, năm sinh, quê quán không ghi, táng tại Mả Cấu, giỗ ngày 10 tháng 9. Cụ sinh hai người con trai, con trưởng ở thôn Trung, dòng họ ta đó là chi thứ vậy.

Hiển cửu đại Tổ khảo Tổng chính, phong tặng Vũ Huân Tướng Quân, Thần vũ Tứ vệ Quân vụ sự, Tham đốc, Dụ Trạch hầu, tên hiệu PHÚC NHAM phủ quân, táng tại Mả Lung, giỗ ngày 1 tháng 10.

Hiển cửu đại Tổ tỉ họ Vương, phong tặng Chính phu nhân, tên hiệu Từ Đức, là hậu duệ của Vương Sư Tây thôn ta. Cụ hợp táng ở Mả Lung, giỗ ngày 2 tháng 9. Cụ sinh hai người con trai, con trưởng tức Tổ tám đời của dòng họ ta vậy.

Hiển bát đại Tổ khảo Đặc tiến Phụ quốc Thượng tướng quân, Cẩm Y vệ, thụy Tùng bá, tên hiệu PHÚC THỌ phủ quân, tên húy là Tể, mộ táng tại Mả Số, giỗ ngày 19 tháng 3.

Hiển bát đại Tổ tỉ họ Nguyễn, tên hiệu Từ An, người Thanh Tước Kim Hoa vậy, mộ táng tại xứ Đống Hám Lê Xá Nhân Hữu, giỗ ngày 20 tháng 7.

Hiển thất đại Tổ khảo Phủ hiệu Hiệu Sinh, phong tặng Đặc tiến Kim tử Vinh lộc Đại phu, Thái Nguyên đẳng xứ Tán trị Thừa chánh sứ ty Thừa chánh sứ, Thừa Trạch bá, tên hiệu PHÚC HIỀN phủ quân, húy Huyên, táng tại xứ Ao Cá, giỗ ngày 19 tháng giêng.

Hiển thất đại Tổ tỉ họ Đoàn, phong tặng Tự phu nhân, hiệu Từ [?][5] người thôn ta. Cụ tên húy là Liễu, mộ táng tại xứ Miếu Đào Xá, Lương Tài, giỗ ngày 6 tháng 3.

Hiển lục đại Tổ khảo Quan viên phụ, phong tặng Đặc tiến Kim tử Vinh lộc Đại phu, Quang lộc Tự khanh, gia tặng Đông các Đại học sĩ, Di Trạch bá, tên thụy Phúc Từ, tên hiệu VÔ VI phủ quân, húy Chữ, tự PHỤ PHƯỢNG, sinh giờ Dần ngày 27 tháng 2 năm Đinh Tị, mất giờ Dậu ngày 9 tháng 12 năm Canh Tuất, táng tại ruộng Bán Nguyệt xã Hương Triện.

Hiển lục đại Tổ tỉ Quan viên mẫu, phong tặng Tự phu nhân, họ Bùi, hiệu Từ Ôn, người ấp ta. Cụ tên húy là Côn, táng tại xứ Đồng Phạm, Hạ Hội, Từ Liêm, giỗ ngày 12 tháng 11. Cụ sinh 3 người con trai, con trưởng húy Long, là Giám sinh Quốc tử giám; con thứ húy Trung, Tri huyện huyện Đại Từ, Cao tổ Diễn quận công họ ta là con út vậy.

Dòng họ ta tách chi thực bắt đầu từ đây. Thế hệ các đời tuy xa, mà việc tưởng nhớ nguồn cội, báo đáp tổ tiên theo lễ không dám quên. Căn cứ theo lễ xưa, nếu là quan Đại phu thì lập ba miếu hai đàn. Đàn là để tế lễ vậy. Vậy nên kính cẩn đắp đàn ở di chỉ đời trước tại xứ Ngõ Dưới, gọi là đàn Truy Viễn. Đặt năm ban bằng đá. Chính giữa phụng thờ Hiển thập đại Tổ khảo tỉ. Ban bên trái thứ nhất phụng thờ Hiển cửu đại Tổ khảo tỉ. Ban bên phải thứ nhất phụng thờ Hiển bát đại Tổ khảo tỉ. Ban bên trái thứ hai phụng thờ Hiển thất đại Tổ khảo tỉ. Ban bên phải thứ hai phụng thờ


 Hiển lục đại tổ khảo tỉ.

 Hàng năm Đông chí làm lễ hợp tế, có lẽ là lấy nghĩa thương xót nhân sinh vậy. Tế phẩm ngày ấy, lấy chi trưởng 1 quan 2 mạch tiền, chi thứ hai 1 quan 2 mạch tiền, chi thứ ba 15 quan tiền. Người trong họ xét theo tuổi thay phiên sắm sửa, muôn đời cháu con tiếp nối không được bỏ. May chăng có thể khiến tiếng thơm của liệt vị tiên tổ ta còn đó, bèn ghi vào đá, để truyền về sau.

Ngày tế thì phụ tế:

Ngoại thất đại hiển tổ khảo Bùi công tự Pháp Chân, giỗ ngày 13 tháng giêng, táng tại xứ Ao Cá.

Ngoại thất đại hiển tổ tỉ họ Nguyễn, hiệu Vĩnh Từ, giỗ ngày 13 tháng 6, mộ táng tại xứ Mộ Xá.

Ngày lành tháng 7 năm Tân Dậu niên hiệu Tự Đức thứ 14 (1860).

Hà Nội, ngày 8 tháng 1 năm 2021
VIỆN NGHIÊN CỨU HÁN NÔM         
Người dịch: Th.s Đào Thị Huệ,             
Th.s Trương Văn Thắng.
Người hiệu đính: Ts. Vũ Việt Bằng.
Tải về bản gốc tại đây